ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Thứ hai - 24/08/2015 03:58 10.873 0
Để phát huy truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt nam. Thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân, tạo điều kiện cho công dân Việt Nam làm tròn nghĩa vụ quân sự góp phần xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ và từng bức hiện đại, tăng cường quốc phòng bảo đảm thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Căn cứ vào Điều 100 Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, điều 34 luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước ngày 10/01/1982. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã công bố Luật nghĩa vụ quân sự đã được Quốc hội thông qua ngày 11/6/1994. Sau nhiều năm thực hiện, luật nghĩa vụ quân sự là cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm cho công dân được thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Do vậy luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi đã được Quốc hội Nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Viêt nam khóa IX kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực thi hành thực hiện từ ngày 01/01/2006. Luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi bổ sung gồm 11 chương 71 điều quy định các chế độ, nghĩa vụ quân sự của công dân nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Viêt nam .
                       ĐỀ CƯƠNG
                       TUYÊN TRUYỀN LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ
       
          Để phát huy truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt nam. Thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân, tạo điều kiện cho công dân Việt Nam làm tròn nghĩa vụ quân sự  góp phần xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ và từng bức hiện đại, tăng cường quốc phòng bảo đảm thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
                       Căn cứ vào Điều 100 Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, điều 34 luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước ngày 10/01/1982. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã công bố Luật nghĩa vụ quân sự đã được Quốc hội thông qua ngày 11/6/1994.
                       Sau nhiều năm thực hiện, luật nghĩa vụ quân sự là cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm cho công dân được thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Do vậy luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi đã được Quốc hội Nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Viêt nam khóa IX kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực thi hành thực hiện từ ngày 01/01/2006. Luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi bổ sung gồm 11 chương 71 điều quy định các chế độ, nghĩa vụ quân sự của công dân nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Viêt nam .
                       Chương I
                       NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
                       Điều 1. Bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của nhân dân.
                       Công dân có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
                        Điều 2. Nghĩa vụ quân sự  là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân Viêt nam.
                       Làm nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội.
                       Công dân phục vụ tại ngũ gọi là quân nhân tại ngũ.
                       Công dân phục vụ trong ngạch dự bị gọi là quân nhân dự bị.
                       Điều 3. Công dân nam, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi cư trú, có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Viêt nam.
                       Điều 4. Công dân nữ có chuyên môn cần cho Quân đội, trong thời bình phải đăng ký nghĩa vụ quân sự phải được gọi huấn luyện; nếu tự nguyện thì có thể được phục vụ tại ngũ.
          Trong thời chiến, theo quyết định của Chính phủ công dân nữ được gọi nhập ngũ và đảm nhiệm công tác thích hợp.
                       Điều5. Những người sau đây không được làm nghĩa vụ quân sự:
                       1. Người đang trong thời kỳ bị pháp luật hoặc tòa án nhân dân tước quyền phục vụ trong các lực lượng vũ trang nhân dân;
                       2. Người đang bị giam giữ.
Chương II
                       VIỆC PHỤC VỤ TẠI NGŨ CỦA HẠ SĨ QUAN VÀ BINH SĨ
          Điều 12. Công dân nam đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi được gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi.
                       Điều 13. Công dân nam đến mười bảy tuổi, có nguyện vọng phục vụ lâu dài trong Quân đội, có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Quốc Phòng, thì có thể được nhận vào học ở trường quân sự và được công nhận là quân nhân tại ngũ.
                       Điều 14. Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là mười tám tháng.
                       Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do Quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là hai mươi bốn tháng.
                       Điều 15. Khi cần thiết, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng được quyền giữ hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ tại ngũ thêm một thời gian không quá sáu tháng so với thời hạn quy định ở Điều 14 của luật này.
                       Điều 16. Việc tính thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
                       Thời gian đào ngũ không được tính vào thời hạn phục vụ tại ngũ.
Chương III
VIỆC CHUẨN BỊ CHO THANH NIÊN PHỤC VỤ TẠI NGŨ
                       Điều 17. Công dân nam, trước khi đến tuỏi nhập ngũ và trước khi nhập ngũ, phải được huấn luyện theo chương trình quân sự phổ thông, bao gồm giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật và rèn luyện thể lực.
                       Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh ở các trường thuộc chương trình chính khóa; nội dung huấn luyện do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
                       Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên không học ở các trường do chủ tịch ủy  ban nhân dân xã, phường, thị trấn ( Sau đây gọi là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã), thủ trưởng cơ quan Nhà nước tổ chức; nội dung huấn luyện do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
                       Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cùng với người đứng đầu các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan chỉ đạo việc huấn luyện quân sự phổng thông.
                       Chủ tịch Ủy  ban nhân dân Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Chủ tịch ủy ban nhân dân Huyện, quận, thị xã thành phố thuộc Tỉnh, trong phạm vi chức năng của mình, chỉ đạo việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên  thuộc địa phương mình; các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho thanh niên làm việc ở cơ sở mình tham gia huấn luyện quân sự phổ thông.
                       Điều 18. Các bộ, Ủy ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, ủy ban chỉ đạo giáo dục quốc phòng  nhân dân, ủy ban nhân dân Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương có trường dạy nghề, trường đại học có trách nhiệm đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật cho Quân đội, theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng đã được Chính phủ phê chuẩn.
                       Điều 19. Ủy ban nhân dân Huyện, quân, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh ( sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp Huyện) có trách nhiệm tổ chức chuẩn bị cho công dân phục vụ tại ngũ và gọi công dân nhập ngũ.
                        Tháng một hàng năm, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, hiệu trưởng các trường  dạy nghề, các trường trung học, thủ trưởng các cơ quan, người phụ trách các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở phải báo cáo danh sách công dân nam đủ 17 tuổi trong năm đó cho Ban CHQS Huyện , quận, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
                       Điều 20. Tháng tư hàng năm, theo lệnh gọi của chỉ huy trưởng quân sự Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh, công dân nam đủ 17 tuổi trong năm đó phải đến cơ quan quân sự để đăng ký nghĩa vụ quân sự.
                       Việc kiểm tra sức khỏe cho những công dân đăng ký nghĩa vụ quân sự do cơ quan y tế Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh phụ trách.
                       Công dân đã đăng ký NVQS được gọi là người sẵn sàng nhập ngũ.
                       Chương IV
VIỆC NHẬP NGŨ VÀ XUẤT NGŨ
          Mục 1: VIỆC GỌI NHẬP NGŨ
                       Điều 21. Hàng năm, việc gọi công dân nhập ngũ được tiến hành từ một đến hai lần, thời gian gọi nhập ngũ và số lượng công dân nhập ngũ trong năm do Chính phủ quyết định.
                       Việc gọi công dân nhập ngũ được tiến hành theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
                       Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ trong địa phương mình bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng; đúng thời gian, đủ số lượng, đúng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Các đơn vị nhận quân có trách nhiệm phối hợp với ủy ban nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ này.
                       Theo quyết định của ủy ban nhân dân, chỉ huy trưởng quân sự Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh gọi từng công dân nhập ngũ. Lệnh gọi nhập ngũ phải được đưa trước 15 ngày.
                       Đối với địa phương gặp thiên tai nặng, thì Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được quyền điều chỉnh thời gian gọi công dân nhập ngũ cho địa phương đó.
          Điều 22. Công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ, nếu có lý do chính đáng không thể đến đúng thời gian và địa điểm thì phải có giấy xác nhận của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ( sau đây gọi là ủy ban nhân dân cấp xã) nơi cư trú.
                       Điều 23. ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Nhà nước cùng các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác có trách nhiệm tổ chức tiễn đưa và bảo đảm cho công dân được gọi nhập ngũ của cơ sở mình có mặt đúng thời gian và địa điểm quy định.
                       Chính quyền nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện chế độ, chính sách đối với gia đình quân nhân.
                       Mục 2: VIỆC HOÃN GỌI NHẬP NGŨ.
                                      VIỆC MIỄN LÀM NGHĨA VỤ QUÂN SỰ
                       Điều 29.
                       1. Những công dân sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình:
                       a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe;
                       b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;
                       c) Có anh, chị hoặc em ruật là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;
                       d) Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vúng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; cán bộ, công chức, viên chức được điều động làm việc ở những vùng này;
                       đ) Đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ  quan ngang bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận;
                       e) Đang học ở các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học do Chính phủ quy định;
                       g) Đi xây dựng vùng kinh tế mới trong ba  năm đầu.
                       Hàng năm, những công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại khoản này phải được kiểm tra, nếu không có lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.
          2. Những công  dân sau đây được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình;
                       a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một, con của bệnh binh hạng một;
                       b) Một người anh hoặc em trai của liệt sĩ;
                       c) Một con trai của thương binh hạng hai;
                       d) Thanh niên xung phong, cán bộ, công chức, viên chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này đã phục vụ từ hai mươi bốn tháng trở lên.
                       3. Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này nếu tình nguyện thì có thể được tuyển  chọn, gọi nhập ngũ.
                       4. Chính phủ quy định cụ thể vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn.
                       Điều 30: Người tàn tật, người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh mãn tính khác theo danh mục bệnh tật do Bộ trưởng Ytế và Bộ quốc phòng quy định thì được miễn làm nghĩa vụ quân sự.
                       Điều 31: Việc hoãn gọi nhập ngũ và miễn làm  nghĩa vụ quân sự theo điều 29 và điều 30 của Luật này UBND cấp Huyện quyết định.
                       Danh sách những công dân được hoãn gọi  nhập ngũ, được miễn làm nghĩa vụ quân sự phải được công bố.
                       Chương X
                       VIỆC XỬ LÝ CÁC VI PHẠM
                       Điều 69
                       1. Người nào vi phạm các quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, gọi quân nhân dự bị tập trung huấn luyện, lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái hoặc cản trở việc thực hiện các quy định trên đây hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tùy theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
                       2. Quân nhân nào vi phạm các quy định về tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, về việc xuất ngũ của HSQ - CS, về chế độ, quyền lợi của quân nhân hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tùy theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà xử lý theo điều lệnh kỷ luật của Quân đội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
                       Đây là những nội dung chủ yếu của chương I, II, III, IV, X. Yêu cầu toàn thể đồng bào, đồng chí tự giác chấp hành và động viên con em tình nguyện lên đường làm nghĩa vụ quân sự bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Viêt nam Xã hội chủ nghĩa.
 
XÁC NHẬN CỦA BAN TUYấN GIÁO                        CHÍNH TRỊ VIÊN
                        
                        
 

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
top
down